Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Nam Hải)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    IMG_4876.jpg 137.jpg 511.jpg 225.jpg Movie7A1.flv DSCN0414.jpg 2.flv Trong_com_6a1.flv DI_CAY_.flv TRUONG_CU.flv HINH_3THAY_VA_TRO2.jpg Movie_VI_DEO_HOAN_THIEN.flv Movie_CHIA_TAY_THAY.flv Vinh_ha_long__hai_chup.flv Movie_MOVI_ANH1.flv Movie_9a3.flv

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Liên kết

    tai nguyen Web Bo GD&ĐT: http://edu.net.vn/media/

    Bản đồ tìm địa danh

    Núi Đôi - Vũ Cao

    Nui_cam02.jpg
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: hantho75
    Người gửi: Hàn Văn Thọ (trang riêng)
    Ngày gửi: 06h:48' 14-12-2010
    Dung lượng: 70.4 KB
    Số lượt tải: 6
    Mô tả:

     

             Núi Đôi

    Bảy năm về trước, em mười bảy 
    Anh mới đôi mươi, trẻ nhất làng 
    Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa 
    Bữa thì em tới, bữa anh sang 

    Lối ta đi giữa hai sườn núi 
    Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi 
    Em vẫn đùa anh: sao khéo thế 
    Núi chồng núi vợ đứng song đôi! 

    Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới 
    Ngơ chùa cháy đỏ những thân cau 
    Mới ngỏ lời thôi, đành lỗi hẹn 
    Đâu ngờ từ đó bặt tin nhau. 

    Anh vào bộ đội, lên Đông Bắc 
    Chiến đấu quên mình năm lại năm 
    Mấy bận dân công về lại hỏi 
    Ai người Xuân Dục, núi Đôi chăng ? 

    Anh nghĩ, quê ta giặc chiếm rồi 
    Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi 
    Mỗi tin súng nổ vành đai địch 
    Sương trắng người đi lại nhớ người. 

    Đồng đội có nhau thường nhắc nhở 
    Trung du làng nước vẫn chờ trông 
    Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm 
    Em vẫn đi về những bến sông ? 

    Náo nức bao nhiêu ngày trở lại 
    Lệnh trên ngừng bắn, anh về xuôi 
    Hành quân qua tắt đường sang huyện 
    Anh ghé thăm nhà, thăm núi Đôi. 

    Mới tới đầu ao, tin sét đánh 
    Giặt giết em rồi, dưới gốc thông 
    Giữa đêm bộ đội vây đồn Thửa 
    Em sống trung thành, chết thủy chung! 

    Anh ngước nhìn lên hai dốc núi 
    Hàng thông bờ có con đường quen. 
    Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói 
    Núi vẫn đôi mà anh mất em! 

    Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo: 
    Em còn trẻ lắm, nhất làng trong; 
    Mấy năm cô ấy làm du kích 
    Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng ? 

    Từ núi qua thôn, dường nghẽn lối 
    Xuân Dục, Đoài Đông cỏ ngút đầy 
    Sân biến thành ao, nhà đổ cháy 
    Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay 

    Cha mẹ đưa nhau về nhận đất 
    Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau 
    Nứa gianh nửa mái lều che tạm 
    Sương nắng khuây dần chuyện xót đau. 

    Anh nghe có tiếng người qua chợ: 
    Ta gắng: mùa sau lúa sẽ nhiều 
    Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc 
    Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu! 

    Nhưng núi còn kia, anh vẫn nhớ. 
    Oán thù còn đó, anh còn đây 
    Ở đâu cô gái làng Xuân Dục 
    Đã chết vì dân giữa đất này! 

    Ai viết tên em thành liệt sĩ 
    Bên những hàng bia trắng giữa đồng 
    Nhớ nhau anh gọi em:đồng chí 
    Một tấm lòng trong vạn tấm lòng. 

    Anh đi bộ đội sao trên mũ 
    Mãi mãi là sao sáng dẫn đường 
    Em sẽ là hoa trên đỉnh núi 
    Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

    Bài thơ Núi Đôi đ­ược Vũ Cao sáng tác trong lần ông nằm điều trị tại Bệnh viện 74 ở Sóc Sơn (Hà Nội), được nghe câu chuyện từ đồng đội và dân làng Phù Linh về cô gái tuổi 20 đã hy sinh anh dũng ở Núi Đôi để bảo vệ đoàn cán bộ. Ngư­ời con gái trong bài thơ là Trần Thị Bắc - một nữ du kích Việt Minh quê ở xóm Chùa, thôn Xuân Đoài (Xuân Dục - Đoài Đông), xã Phù Linh (còn gọi là Lạc Long), huyện Sóc Sơn (Hà Nội). Trần Thị Bắc hy sinh ngày 21-3-1954 khi lọt vào ổ phục kích của địch. Trên thực tế, cô đã có chồng chứ không phải mới có ngư­ời yêu như­ trong bài thơ.

    Núi Đôi là­ nỗi đau xót làm ngư­ời đọc càng day dứt, nh­ư một sự tích tụ để vỡ òa tr­ước sự mất mát. Hơn bao giờ hết, ng­ười đọc nhận ra tội ác của kẻ thù một cách cụ thể đến từng số phận: Bắt đầu từ sự xuất hiện của giặc là một dự cảm mơ hồ, nuối tiếc: Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn/Đâu ngờ từ đó bặt tin nhau. Tình yêu vừa chớm nở đã phải chia cắt bởi chiến tranh và hai con ng­ười ấy đều đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, của tự do ngày mai.

    Có lẽ, không nhiều nhà thơ kháng chiến viết đư­ợc bài thơ về liệt sĩ, về đồng đội, về ngư­ời yêu và về ngư­ời đồng chí vừa chân tình, vừa thiết tha, lại vừa đau đớn như­ trong Núi Đôi. Hơn tất cả, chư­a ai gọi: Em, đồng chí mà nghe cảm thấy êm dịu, ngọt lành nh­ư Vũ Cao đã gọi trong bài thơ của mình: Ai viết tên em thành liệt sĩ/Bên những hàng bia trắng giữa đồng/Nhớ nhau anh gọi: Em, đồng chí/Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

    Nhân vật trữ tình trong bài thơ đã hóa thân vào “vạn tấm lòng”, tình cảm riêng tư­ nâng tầm thành tình cảm cách mạng. Tác giả không hề mô tả n­ước mắt trư­ớc bi kịch dù Nắng lụi bỗng d­ưng mờ bóng khói/Núi vẫn đôi mà anh mất em. Vũ Cao để ng­ười đọc hình dung ra cuộc chiến đấu của ng­ười chiến sĩ lấp lánh ánh sáng bất tử của ng­ười con gái Núi Đôi: Anh đi bộ đội sao trên mũ/Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

    Bài thơ kết thúc để lại trong lòng người đọc một hình ảnh đẹp thanh khiết về người con gái cách mạng nh­ư một cánh hoa thơm ngát bốn mùa. Vẻ đẹp ấy còn kết đọng mãi trong lòng ngư­ời, nhắc mãi vẻ đẹp kết tinh từ những ngày tháng kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược để động viên sức mạnh chiến đấu chống đế quốc Mỹ, h­ướng về t­ương lai toàn thắng của quê h­ương, đất nư­ớc.

      

    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Chào mừng quý vị đến với Website của Trường THCS Tân Lộc Bắc.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.